Nguyễn Phúc Tần
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một vị chúa Nguyễn trong lịch sử Việt Nam: Nguyễn Phúc Tần là tên húy của vị chúa Nguyễn thứ tư ở Đàng Trong, còn được biết đến với tôn hiệu là Hiền Vương (Chúa Hiền). Ông là con trai thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Lan (Thần Tông) và bà Đoàn Thị.
- Một nhân vật lịch sử có công mở mang bờ cõi: Ông được sử sách ghi nhận là người có ý chí mở mang lãnh thổ, đặc biệt là việc tổ chức khai khẩn, mở mang vùng đất Nam Bộ.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Nguyễn Phúc Tần lên ngôi chúa năm 1648.
- Công lao mở mang bờ cõi phương Nam của chúa Nguyễn Phúc Tần rất được hậu thế ghi nhận.
- Lăng mộ của Nguyễn Phúc Tần nằm ở núi Hải Cát, Quảng Trị.
Các cách sử dụng nâng cao
"Thời Nguyễn Phúc Tần": Cụm từ dùng để chỉ giai đoạn lịch sử do vị chúa này cai trị, thường gắn với sự ổn định và mở rộng lãnh thổ về phía Nam.
- Thời Nguyễn Phúc Tần, Đàng Trong có nhiều bước phát triển quan trọng.
"Chính sách của Nguyễn Phúc Tần": Ám chỉ những đường lối cai trị, quân sự và khai hoang do ông đề ra và thực thi.
- Chính sách của Nguyễn Phúc Tần đối với các tướng lĩnh nhà Minh di cư đã góp phần hình thành vùng đất Nam Bộ.
Biến thể và từ gần giống
- Hiền Vương: Tôn hiệu phổ biến nhất khi nhắc đến Nguyễn Phúc Tần, phản ánh sự ca ngợi của người đương thời về đức độ và tài năng của ông.
- Chúa Hiền: Cách gọi dân gian, thân mật hơn đối với Nguyễn Phúc Tần.
- Hiếu Tông Hiếu Triết Hoàng đế: Thụy hiệu đầy đủ được truy tặng sau khi ông qua đời.
Từ đồng nghĩa
- Chúa Nguyễn thứ tư: Cách gọi xác định vị trí của ông trong dòng các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
- Hiền Vương: (Xem ở mục Biến thể).
Các cụm từ liên quan
- Mộ Hiền Vương: Chỉ lăng mộ của Nguyễn Phúc Tần.
- Triều đại Hiền Vương: Chỉ thời kỳ ông tại vị.
Thành ngữ/Điển tích liên quan
- Câu chuyện giết phi tần: Điển tích thể hiện tính quyết đoán, cứng rắn (thậm chí tàn nhẫn) của Nguyễn Phúc Tần vì lo sợ ảnh hưởng của nữ sắc đến việc triều chính, được rút ra từ bài học của Ngô Phù Sai.
- Mở cõi phương Nam: Hành động lịch sử gắn liền với tên tuổi Nguyễn Phúc Tần, chỉ việc ông cho phép và khuyến khích khai khẩn, mở rộng lãnh thổ vào vùng đất Nam Bộ ngày nay.
- (Kỷ Mùi 1619 - Đinh Mão 1687)
- Ông là công tử thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Lan, mẹ là Đoàn thị được phong làm Thái phó Dũng lễ Hầu, Dũng Quận Công
- Năm Giáp Thân (1644) ông đánh thắng thuyền nước ngoài vào cướp ở cửa Eo (Yêu môn, nay là Thuận An), nhờ đó năm Mậu Tí 1648 ông được phong làm Tiết chế chủ quân cùng cha đại phá Trịnh ở sông Gianh. Năm Canh Thìn 1849, Hi tông mất, ông được triều đình tôn nối nghiệp chúa cha, năm 27 tuổi đương thời gọi là Chúa Hiền hay Hiền vương (anh cả là công tử Nguyễn Phúc Võ mất sớm)
- Ông am hiểu binh pháp, chính trị, có ý chí mở mang bờ cõi, chăm lo việc nước, không chuộng vui chơi, yến tiệc, lại là người quyết đoán, cứng rắn có khi đến tàn nhẫn. Sử chép ông có một phi tần nguyên là đào hát, rất xinh đẹp, ông rất yêu mến; một hôm đọc sách thấy chuyện Ngô Phù Sai vì say mê nữ sắc mà mất nước, ông sực tỉnh, bèn ngầm sai người bỏ thuốc độc giết chết người phi tần ấy vì có lần nàng có ý khuynh loát việc triều chính
- Năm ất Mùi 1655, ông ra đánh chúa Trịnh, chiếm Nghệ An và bình định cả khu vực phía Nam Thanh Hóa, chúa Trịnh khó khăn lắm mới giữ được từ sông Mã trở ra. Năm 1660, Trịnh Căn phản công, bộ tướng của ông là Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật bất hòa, quan Nguyễn thất thế phải bỏ Nghệ An rút về Bố Chính như trước. Năm Cảnh Trịnh thứ 8 (1670), Trịnh Tạc đem quân vượt sông Gianh đánh vào nhưng thất bại phải rút về ranh giới cũ. Năm Tân Hợi 1671, chúa Trịnh lại đem quân vào đánh một lần nữa nhưng thất bại nốt. Từ đó Trịnh - Nguyễn lấy sông Gianh làm ranh giới giữa hai bên gọi là Bắc Hà, Nam Hà (hoặc Đàng Ngoài, Đàng Trong)
- Năm Mậu Tuất 1658, vua Chân Lạp nhận làm phiên thần chúa Thái tông. Năm Kỷ Mùi 1679, tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình vì bất phục nhà Thanh đem nhiều quân sĩ và thuyền bè sang xin làm tôi chúa Nguyễn. Ông cho họ đến khai khẩn, mở mang đất Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) và các khu vực kế cận. Năm Đinh Mão 1687 ông bệnh, qua đời, ở ngôi 39 năm, thọ 68 tuổi, được truy tặng là Hiếu tông Hiếu Triết Hoàng đế, an táng ở núi Hải Cát (thuộc huyện Hải Lăng, Quảng Trị)
- Về đời Thái tông, sách Thực lục tiền biên chép: "Bấy giờ trong cõi vô sự, thóc lúa được mùa, chúa càng sửa sang chính trị, không xây đài tạ, không cần thanh sắc, giảm nhẹ giao dịch thuế má, trăm họ vui vẻ, đều khen là đời thái bình". Chính Hiền vương là người đầu tiên kinh dinh vùng đất Nam Bộ ngày nay